Hàng Việt giai đoạn 2026-2030: Cạnh tranh bằng chất lượng và niềm tin
31/10/2026,
16:34
Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026-2030 vừa được phê duyệt với hàng loạt mục tiêu về mở rộng thị trường nội địa, phát triển thương mại điện tử và nâng tỷ lệ hàng Việt trong hệ thống phân phối. Điểm đáng chú ý là định hướng chuyển từ vận động người tiêu dùng lựa chọn hàng trong nước sang xây dựng hệ sinh thái sản phẩm có chất lượng, nguồn gốc minh bạch và sức cạnh tranh thực chất.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 2069/QĐ-TTg ngày 29/10/2026 phê duyệt Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026-2030. Chương trình hướng tới xây dựng hệ sinh thái hàng Việt Nam bảo đảm chất lượng, có sức cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu thị trường và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế.
Không chỉ đặt mục tiêu gia tăng tỷ lệ hàng Việt trên các kệ hàng, chương trình còn hướng tới thay đổi cách phát triển thị trường nội địa: lấy người tiêu dùng làm trung tâm, chất lượng sản phẩm làm nền tảng và năng lực doanh nghiệp làm yếu tố quyết định.

Thị trường nội địa đặt mục tiêu tăng trưởng 14-15% mỗi năm
Theo Chương trình, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng phấn đấu tăng bình quân 14-15%/năm trong giai đoạn 2026-2030, đến năm 2030 đạt khoảng 13.500-14.000 nghìn tỷ đồng.
Tỷ lệ hàng Việt Nam tại các siêu thị, trung tâm thương mại trong nước được duy trì trên 80%; tại các kênh thương mại truyền thống đạt trên 60%. Doanh thu thị trường nội địa của các ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam phấn đấu tăng bình quân 12-15%/năm.
Ở lĩnh vực thương mại điện tử, chương trình đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng doanh số bình quân 23-25%/năm, đạt khoảng 93-97 tỷ USD vào năm 2030, tương đương 18-19% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước. Ít nhất 5 gian hàng số chuyên ngành hàng Việt sẽ được hình thành trên các sàn thương mại điện tử lớn.
Đây là những mục tiêu đặt ra trong bối cảnh thị trường bán lẻ trong nước đang mở rộng nhưng sức mua thực tế vẫn cần được nhìn nhận thận trọng. Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt khoảng 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm trước. Trong 8 tháng đầu năm 2026, tổng mức đạt khoảng 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ; nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng là 7,6%.
Sự khác biệt giữa tăng trưởng theo giá hiện hành và tăng trưởng sau khi loại trừ yếu tố giá cho thấy mở rộng quy mô thị trường chưa đồng nghĩa với sức mua tăng tương ứng. Vì vậy, để hàng Việt chiếm lĩnh thị trường, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào các chiến dịch kích cầu hoặc lợi thế về xuất xứ. Sản phẩm phải đáp ứng nhu cầu, có chất lượng ổn định, giá cả phù hợp và tạo được niềm tin lâu dài.
Bộ nhận diện hàng Việt phải đi cùng khả năng xác thực
Một trong những nội dung đáng chú ý của Chương trình là xây dựng bộ nhận diện “Hàng Việt vì người Việt” thống nhất trên toàn quốc. Hàng hóa, dịch vụ tham gia phải có xuất xứ Việt Nam, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, quy định pháp luật chuyên ngành, tiêu chuẩn công bố áp dụng và yêu cầu về đo lường, chất lượng.
Bộ nhận diện được xây dựng trên cơ sở tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và các quy định chuyên ngành, đồng thời gắn với năng suất, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và truy xuất nguồn gốc.
Chương trình đặt mục tiêu có ít nhất 3.000 doanh nghiệp sản xuất được xác nhận tham gia nhận diện “Hàng Việt vì người Việt” và công bố trên Nền tảng số hàng Việt Nam vào năm 2030. Nền tảng này được định hướng kết nối, liên thông và xác thực dữ liệu về doanh nghiệp, sản phẩm, kết quả đánh giá tiêu chí, truy xuất nguồn gốc, điểm phân phối và phản hồi của người tiêu dùng.

Nếu được triển khai đồng bộ, bộ nhận diện có thể trở thành công cụ hỗ trợ người mua phân biệt sản phẩm đáp ứng tiêu chí của chương trình với những sản phẩm chỉ sử dụng thông điệp quảng bá hàng Việt. Tuy nhiên, hiệu quả sẽ phụ thuộc vào tính minh bạch của tiêu chí xét chọn, quy trình xác nhận, cơ chế giám sát và khả năng cập nhật dữ liệu.
Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp với doanh nghiệp. Việc tham gia chương trình không chỉ tạo thêm cơ hội quảng bá mà còn đặt ra yêu cầu đầu tư cho quản trị chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm, minh bạch nguồn gốc và trách nhiệm sau bán hàng. Nếu thiếu cơ chế kiểm tra thường xuyên, một nhãn nhận diện dù được truyền thông rộng rãi cũng khó duy trì giá trị bảo chứng trên thị trường.
Doanh nghiệp phải nâng năng lực để tận dụng cơ hội
Chương trình đưa ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, bao quát từ truyền thông, phát triển kênh phân phối hiện đại, thương mại điện tử đến nâng cao năng lực doanh nghiệp, kiểm soát thị trường và hoàn thiện thể chế.
Đáng chú ý, trên 70% doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng tiêu dùng được đặt mục tiêu ứng dụng thương mại điện tử; 45% doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực thương mại phấn đấu tham gia các sàn thương mại điện tử lớn trong và ngoài nước.
Cùng với đó, chương trình khuyến khích phát triển mô hình bán lẻ đa kênh, livestream thương mại, liên kết từ vùng nguyên liệu đến hệ thống phân phối và mở rộng các điểm giới thiệu, bán hàng Việt tại sân bay, cảng biển, cửa khẩu, khu du lịch. Các doanh nghiệp FDI cũng được khuyến khích tăng cường liên kết với nhà cung ứng trong nước, thúc đẩy nội địa hóa chuỗi cung ứng.
Cơ chế xây dựng thương hiệu tiên phong được định hướng theo phương thức “Nhà nước hỗ trợ – Hiệp hội chủ trì – Doanh nghiệp bứt phá”, với mục tiêu có tối thiểu 100 doanh nghiệp tham gia vào năm 2030.
Ở chiều ngược lại, cơ quan chức năng sẽ tăng cường kiểm tra, xử lý hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng nhập lậu và gian lận xuất xứ trên cả thị trường truyền thống lẫn môi trường thương mại điện tử. Việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong phát hiện vi phạm cũng được đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát thị trường.
Bộ Công Thương là cơ quan đầu mối quản lý, triển khai Chương trình, chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện. Các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội được phân công phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ.
Với cộng đồng doanh nghiệp, chương trình mở ra cơ hội tiếp cận thị trường và hệ thống phân phối rộng hơn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu nâng cấp năng lực sản xuất, quản trị và xây dựng thương hiệu. Đối với người tiêu dùng, giá trị của chương trình không nằm ở số lượng khẩu hiệu hay gian hàng được hình thành, mà ở khả năng tiếp cận sản phẩm có chất lượng, nguồn gốc rõ ràng và được bảo vệ quyền lợi khi mua sắm.
Sau cùng, sức mạnh của hàng Việt không thể chỉ được đo bằng tỷ lệ hiện diện trên kệ hàng. Thước đo bền vững phải là khả năng giữ chân người mua bằng chất lượng, giá trị sử dụng và niềm tin. Khi doanh nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh và người tiêu dùng chủ động lựa chọn vì sản phẩm xứng đáng, mục tiêu phát triển thị trường nội địa mới có cơ sở để chuyển hóa thành động lực tăng trưởng thực chất.
Theo DNHN
